Sưng Chân

From Viet Y Hoc Wiki

Jump to: navigation, search

Sưng Phù ở chân có thể:

  • do bệnh hay chấn thuơng ở chân,
  • nhưng cũng có thể là biểu hiện bệnh trạng ở một số cơ quan khác, như tim, thận, gan.

Khi chân bị sưng, người bệnh nên để ý xem chân bị sưng ở phần nào: bàn chân, mắt cá, bắp chuối hay đùi, hay nguyên cả chân, và chỉ sưng ở một chân hay cả hai chân.

Contents

Nguyên nhân:

sưng chân

Sưng chân do bệnh hay chấn thương ở chân:

  1. Chân có thể bị sưng phù do nước bị ứ đọng ở chân sau khi đứng hoặc ngồi lâu một chổ: khi chân bất động ở vị thế đứng hay ngồi, các bắp thịt không co bóp nên nước ở trong chân không được di chuyển và vì vậy, nước tích trụ trong các mô ở chân và gây nên sưng phù. Những người làm việc ở vị thế đứng, những hành khách ngồi xe hay máy bay, những người lớn tuổi xem phim bộ, v.v. nên đứng dậy mỗi 1-2 tiếng đồng hồ, và đi tới lui để tránh cho chân khỏi bị sưng.
  2. Máu đóng cục trong tĩnh mạch sâu ở chân: Khi
    • ngồi lâu một chổ (như khi đi máy bay hay xe đò), hoặc ngồi may vá
    • hoặc khi bị một trong những bệnh khiến cho máu dễ đông, máu trong các tĩnh mạch ở chân có thể đóng thành cục. Những trường hợp này có khi không gây triệu chứng hay biểu hiện gì, nhưng cũng có thể gây sưng phù, đau nhức, da ửng đỏ và tăng nhiệt độ ở bàn chân hay mắt cá (cổ chân). Bệnh này rất nguy hiểm vì cục máu có thể tách rời và di chuyển theo dòng máu đến phổi, làm tắc nghẽn động mạch phổi. Vì vậy, khi phải ngồi lâu, nên đứng dậy thường xuyên và đi tới lui để giúp máu ở chân lưu thông bình thường. Nếu chứng sưng chân không dứt sau khi đứng dậy và đi tới lui, thì nên đến bác sĩ để tìm biết xem có bị đông máu cục trong tĩnh mạch chân hay không. Tình trạng máu đống cục trong tĩnh mạch ở chần cần được điều trị bằng thuốc làm loãng máu trong nhiều ngày để tránh biến chứng Tắc nghẽn động mạch phổi.
  3. Chấn thương ở bàn chân, mắt cá, gót chân, đầu gối, xương chân: những trường hợp sưng phù do chấn thương gây nên đều kềm theo đau nhức. Những chấn thương nặng có thể gây gảy xương hay trật khớp cần được bác sĩ khám, chụp hình và điều trị đúng mức. Trong những trường hợp nhẹ, người bị thương nên giảm thiểu cử động chân, chườm nước đá chổ sưng trong 48 tiếng đồng hồ đầu. Gác chân lên cao và quấn chổ sưng với băng thung cũng có thể giúp giảm sưng.
  4. Viêm khớp: các khớp ở chân (đầu gối, mắt cá, các khớp ở bàn chấn) có thể bị viêm. Viêm khớp thường không sưng to nhưng gây đau nhức và khiến cho khớp khó cử động. Viêm có thể giới hạn ở một khớp và cũng có thể ở nhiều khớp cùng một luợt. Viêm có nhiều thứ, như:
    1. Bệnh Gút: bệnh này thường giới hạn ở các khớp ngón chân cái, gây đau nhức dữ dội, sưng, đỏ và nóng. Bệnh Gút cần được chẩn đoán đúng và điều trị đúng thuốc thì mới thuyên giảm mau. Bệnh Gút lâu ngày có thể làm hư vẹo khớp.
    2. Thoái hoá xương khớp: Đây là bệnh gây viêm khớp thường nhất ở người lớn tuổi, ảnh hưởng đến các khớp ở bàn tay, hán, cổ, thắt lưng và đầu gối. Vận động và đi đứng nhiều khiến khớp xương bị đau nhiều hơn. Bệnh này không thể trị dứt. Những cơn đau có thể điều trị bằng thuốc giảm đau như acetaminophen (Tylenol, Paracetamol, không nên dùng quá liều vì có thể làm hại gan). Nếu nặng hơn thì có thể dùng một trong những thuốc chống viêm không có chất steroid, như ibuprofen, naproxen, v.v. (những thuốc này không nên dùng lâu vì có thể gây tổn thương cho dạ dày và gan). Những trường hợp viêm khớp nặng có thể cần điều trị bằng cách tiêm steroid.
    3. Viêm khớp dạng thấp: Đa số trường hợp bệnh này xuất hiện ở lưới tuổi 40-60. Bệnh bắt đầu ảnh hưởng đến các khớp ở cổ tay, bàn tay, mắt cá, bàn chân, và sau đó lan tới các khớp vai, cùi chỏ, đầu gối, cổ. Bệnh này không thể trị dứt được. Những trường hợp đau nhức có thể trị bằng những thuốc giảm đau, chống viêm và các thuốc loại steroid. Những trường hợp nặng khiến các khớp xương bị hư hoại và không còn sử dụng được, và có thể cần đến các chuyên khoa giải phẩu chỉnh hình.
    4. Bệnh Sốt Thấp khớp: Đa số những trường hợp bệnh này xảy đến những trẻ từ 5 đến 15 tuổi nhưng cũng có thể xảy đến cho người lớn trong lứa tuổi 25-35. Bệnh thường phát hiện khoảng 2-4 tuần sau khi bị nhiễm trùng cổ họng bởi loại vi trùng streptoccocus A. Ngoài chứng nóng sốt và đau rát cổ họng, người nhiễm bệnh còn có thể bị sưng và đau nhức ở các khớp mắt cá, đầu gối, cùi chỏ, cổ tay, v.v. Bệnh này có nguy cơ gây tổn hại đến các van tim, nên cần được điều trị sớm để chấm dứt hẳn bệnh nhiễm trùng.
  5. Bệnh giãn tĩnh mạch ở chân: Vị thế đi đứng khiến cho các tĩnh mạch ở chân bị giãn phình to ra, trong như những lọn dây màu xanh sậm ở dưới da, và gây sưng phù ở bàn chân và cổ chân. Người bệnh có cảm giác nhưng nhức ở chân sau khi ngồi hay đứng một hồi lâu. Bệnh này xảy đến cho những người lớn tuổi và phụ nữ mang thai. Gác chân lên cao, mang vớ bó chân, tránh ngồi hay đúng lâu một chổ có thể giúp giảm thiểu những triệu chứng khó chịu ở chân. Những trường hợp nặng có thể chữa trị bằng phương pháp tiêm thuốc làm chai tĩnh mạch, hoặc bằng những phẫu thuật đốt tĩnh mạch hay rút bỏ tĩnh mạch. Bệnh giãn tĩnh mạch ở phần sâu trong chân cũng có thể gây biến chứng đóng máu cục (xem phần A2). Những tĩnh mạch phình giãn khi mang thai có thể tự nhiên biến mất khoàng 3 tháng sau khi sanh và không cần điều trị.
  6. Phù Bạch huyết: Phù Bạch huyết có thể là một tình trạng
    1. bệnh bẩm sinh,
    2. hay phát hiện sau khi giải phẫu, xạ trị, hoặc do u bướu, nhiễm trùng làm tắc nghẽn hệ bạch huyết, khiến dịch bạch huyết ứ đọng ở chân hay tay. Tình trạng Phù Bạch huyết không thể trị dứt được. Những biện pháp như Vận động tay chân, quấn cánh tay hay chân trong băng thung, xoa bóp, mặc tay áo hay vớ bó sát, v.v. có thể làm giảm sưng và giúp dịch bạch huyết lưu thông.
  7. Nhiễm trùng ở chân: Nhiễm trùng ở chân thường gây nóng sốt, đau nhức, sưng, da ửng đỏ và tăng nhiệt độ ở nơi bị sưng. Nhiễm trùng có thể ở xương, khớp xương, hay ở những phần mền của chân. Bệnh nhiễm trùng cần được điều trị sớm bằng thuốc kháng sinh để tránh biến chứng nhiễm trùng máu hay nhiểm trùng lan rộng ra và di chuyển đến những cơ quan khác. Trong những trường hợp mưng mủ, bọc mủ (áp-xe) cần được mổ ra để mủ thoát ra ngoài thì mới trị dứt bệnh được, vì thuốc kháng sinh không thể vào tận trong bọc mủ để diệt vi trùng.

Sưng chân do bệnh ở một cơ quan khác:

  1. Xơ Gan: Xơ gan là tình trạng mô gan biến dần thành mô xơ, làm suy yếu những chức năng gan cần thiết cho cơ thể. Những bệnh như Viêm Gan B, Viêm Gan C, uống rượu nhiều lâu ngày, Gan nhiễm mở, v.v. có thể đưa đến tình trạng xơ gan. Khi hiện tượng xơ gan đến mức độ nặng thì có thể gây sưng phù ở chân, ở bụng, vàng da, ứ dịch trong hốc bụng, và một số biểu hiện khác. Sưng chân và ứ dịch trong hốc bụng có thể giảm bớt khi dùng thuốc lợi tiểu và dùng ít muối trong các thức ăn. Tùy nguyên nhân gây xơ gan và mức độ nặng nhẹ của tình trạng suy gan, bác sĩ có thể chỉ định những phương pháp điều trị đặc biệt để giúp ổn định bệnh trạng. Khi gan bị suy yếu nặng thì cần được thay thế bằng cách ghép gan.
  2. Bệnh Tắc nghẽn Ống phổi Dai dẳng: Bệnh này có thể xảy đến cho những người hút thuốc lá lâu ngày. Các phế quản bị teo hẹp lại, khiến cho người bệnh bị khó thở, ho có đàm, tức ngực, sưng chân. Bệnh này kéo dài lâu ngày và không thể trị dứt. Ngưng hút thuốc có thể giúp cho bệnh không tiến triển nặng thêm. Một số thuốc có thể giúp người bệnh thở dễ dàng hơn.
  3. Bệnh Thận: Những bệnh thận như
    1. Viêm tiểu cầu thận,
    2. bệnh Thận do Tiểu Đường,
    3. bệnh Lupus Ban đỏ Toàn thân
    4. Bệnh Thoái hoá dạng Tinh bột, v.v. có thể đưa đến Hội chứng Hư thận và Suy thận. Ngoài những triệu chứng và biểu hiện đặc biệt của mỗi căn bệnh kể trên, tình trạng suy thận có thể gây chứng sưng phù ở chân. Việc trị liệu tùy thuộc vào căn nguyên gây tình trạng suy thận.
  4. Bệnh Tim:
    1. Những bệnh Tim nặng đưa đến tình trạng Suy Tim
    2. Và bệnh Viêm Màng tim khiến người bệnh khó thở, dễ mệt mỗi khi vận động và cũng có thể gây sưng phù ở chân. Phương pháp điều trị tùy vào căn bệnh gây trình trạng suy tim, viêm màng tim hay ứ nước giữa hai lớp màng tim.
  5. Mang thai: Đa số những người mang thai bị phù chân. Uống nhiếu nước, tránh ăn đồ quá mặn, tránh ngồi hay đứng lâu một chổ, gác chân lên cao, mang vớ lên tới đùi, v.v. là những biện pháp có thể làm giảm sưng chân. Trong trường hợp chứng sưng phù gia tăng nhiều và không giảm khi gác chân lên cao, và đặc biệt khi có thể biểu hiện cửa chứng Tiền sản giật, như nhức đầu, mờ mắt, huyết áp lên cao, lên cân nhanh, v.v., người mang thai cần được bác sĩ sản khoa khám nghiệm và điều trị đúng mức để tránh bệnh trạng biến chuyển nặng thêm. Nếu chứng sưng chân chỉ ở một chân thì có thể do máu đống cục trong tĩnh mạch ở chân (xem A2). Tình trạng này cần được chữa trị khẩn cấp.
  6. Thuốc: Một số thuốc thuộc các loại sau đây có thể gây chứng sưng chân:
    1. Thuốc chống viêm không có steroid, như ibuprofen, naproxen, v.v.
    2. Thuốc trị bệnh Tiểu đường, như pioglitazone (Actos), troglitazone (Rezulin), v.v.
    3. Thuốc trị bệnh Trầm cảm, như amitriptyline, desipramine, v.v.
    4. Thuốc trị bệnh Cao Huyết áp, như amlodipine, felodipine, nicardipine, v.v.
    5. Thuốc thuộc loại Kích thích tố, như những thuốc ngừa thai hay thuốc điều hoà kinh nguyệt;
    6. Thuốc thuộc loại steroid;
    7. Và một số thuốc khác.

Tóm lược:

Phù cả hai chân:

  1. Không có triệu chứng hay dấu hiệu gì khác:
    1. Ứ nước ở chân sau khi đứng hay ngồi lâu một chổ
    2. Ứ nước ở chân khi mang thai
    3. Ứ nước do một số Thuốc gây nên
  2. Kèm theo những triệu chứng hay dấu hiệu bệnh của một cơ quan khác: Ứ nước ở chân do Suy Tim, Suy Thận, Suy Gan hay Suy bộ phận Hô hấp

Phù một chân:

  1. Viêm khớp
  2. Nhiễm trùng
  3. Bệnh Tĩnh mạch hay bệnh Hệ thống Bạch huyết

Tự vựng:

Bệnh giãn tĩnh mạch ở chân (Varicose vein)

Bệnh Sốt Thấp khớp (Rheumatic fever)

Bệnh Thoái hoá dạng tinh bột (Amyloidosis)

Cùi chỏ (elbow)

Đầu gối (knee)

Hội chứng Hư thận (nephrotic syndrome)

Mắt cá (ankle)

Máu đóng cục trong tĩnh mạch sâu ở chân (deep vein thrombosis)

Nhiễm trùng máu (septicemia)

Phù Bạch huyết (Lymphedema)

Suy thận (renal failure)

Tắc nghẽn động mạch phổi (pulmonary embolus)

Thoái hoá xương khớp (osteoarthrosis)

Viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis)

Viêm màng tim (pericarditis)

Viêm tiểu cầu thận (glomerulonephritis)

Xơ gan (cirrhosis)

Bệnh Tắc nghẽn Ống phổi Dây dưa (COPD)

Thuốc lợi tiểu (diuretics)

Lupus Ban đỏ Toàn thân (systemic lupus erythematosus)

Gan nhiễm mở (fatty liver)

Personal tools
Site Statistics